Hỏi đáp Danh sách thành viên Lịch Tìm Kiếm Bài gửi hôm nay Đánh dấu là đã đọc
Trở lại   Thực dưỡng Diệp lục > Thực dưỡng > Trao đổi, thảo luận > Thực dưỡng OHSAWA
Result  Reload Thống kê - Thực dưỡng Diệp lục
All Forums | Thông báo từ BQT | Trao đổi, thảo luận | Phòng đọc, nghe, xem
Please wait...
Please wait...
Please wait...
Please wait...
Trả lời
 
Công cụ bài viết Kiểu hiển thị
  #1  
Cũ 06-08-2011, 10:20 AM
bapcai bapcai đang ẩn
Member
 
Tham gia ngày: Jun 2011
Bài gửi: 56
Mặc định Sổ tay dưỡng sinh ohsawa

TỈ LỆ QUÂN BÌNH TRONG MỘT NGÀY:

Khoảng từ 79 - 90% đồ ngũ cốc nguyên cám.

Từ 30 - 10% rau quả khô hoặc xanh.

- Ngũ cốc gồm: Lúa mì, gạo lứt, kê, bắp, bo bo, lúa mạch, đại mạch, hắc mạch, kiều mạch, v.v..

- Các loại rau quả và gia vị nên dùng:

+ Cà rốt, củ cải, bí ngô, hành tỏi, kiệu tây, 2bắp su trắng, rau dền, rau xà lách son, rau má, rau bồ ngót, cải bẹ xanh, v.v... (rau củ mọc thiên nhiên và rau củ sạch không sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu).

+ Nước uống: Nước thiên nhiên, trà bancha, trà gạo lứt, trà củ sen, trà bồ công anh.

+ Chất béo: Dầu mè, dầu phộng (Mứctối đa là 2 muỗng canh dầu một người một ngày)

+ Trái cây: Trái gất, dâu tây, hạt dẻ, trái cây thiên nhiên và đúng mùa.

+ Đường: Nếu sức khỏe ổn định thì có thể sử dụng đôi chút đường đen, đường thốt nốt, đường phèn, mạch nha.

NHỮNG THỨC UỐNG, MÓN ĂN NÊN TRÁNH DÙNG ĐẾN LÀ:

+ Tất cả các loại cà, măng, giá, nấm, khoai tây, đậu leo, rau bá hợp, dưa gang, bắp su đỏ, củ cải đường.

+ Bơ, sữa, đồ ăn chế bằng phomát.

+ Trái cây: Các đồ tươi sống và đường (trong lúc đang trị bệnh).

+ Gia vị: Tiêu, ớt, cà ri.

+ Nước uống: Luôn luôn uống nước ấm (khoảng 37 độ) và khoảng 3 xị (0,75 lít) trở lại.

SAU ĐÂY MỘT SỐ ĐIỀU CẦN LƯU Ý:

- Về tâm trạng: Không vui, không khỏe thì không nên ăn và cũng không được nấu ăn.

- Về đại tiện: Phân luôn màu vàng, chặt, không rã nát và đúng giờ vào buổi sáng. Nếu là phân khác là âm hơn, hoặc dương hơn thì cần phải điều chỉnh lại.

- Về tiểu tiện: Phụ nữ không đi tiểu quá 3 lần trong ngày. Nam không đi quá 4 lần trong ngày.

Lưu ý: Đường ruột đang tốt là một ngày chỉ đi đại tiện một lần vào buổi sáng và chỉ nên súc miệng một lần vào buổi tối (Bột chà răng)

- NƯỚC UỐNG: Một người quá âm, hay bệnh về gan thì nên sử dụng trà gạo lứt rang và trà bồ công anh.

- Trà củ sen tốt cho người bệnh phổi. Trà bancha tốt cho bệnh tim mạch, đường ruột, bao tử (Tốt nhất là được sự hướng dẫn của người có kinh nghiệm).

DẦU MÈ GỪNG: Giã nát, hoặc mài gừng tươi, vắt lấy nước cốt trộn đều với một lượng dầu mè tương đương. Dùng xoa hay đánh gió khi cảm sốt, xoa bóp khi nhức mỏi, tức, trặc, đau bụng, sưng u, bôi lên vết lở ở tai, mũi, ghẻ lác, xức dầu trị gầu và rụng tóc. Chỉ nên làm vừa đủ dùng trong 2-3 ngày, vì để lâu gừng thối, có mùi khó chịu; có thể dùng xen kẻ với áp nước gừng.

CAO HẠ NHIÊT: Ngâm đậu nành với nước cho mềm, giã nát và trộn thêm ít bột gạo cho khỏi nhão, rồi đem đắp lên trán để hạ sốt (Xem chừng thân nhiệt hạ còn 38,5 độ thì lấy ra ngay), hoặc đắp những chỗ viêm nhức (Không dùng trong trường hợp ban, sởi, tót, rạ, đậu mùa).

BỘT GẠO LỨT SỐNG: Nhai nhỏ gạo lứt sống với vài hạt muối sống, hoặc giã thành bột mịn trộn nước và tí muối cho dẻo, đem đắp vào vết thương, vết lở loét, hoặc ghẻ chốc.

NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG DƯỠNG SINH

Trị liệu theo pháp Thực Dưỡng thiên về giáo dục, chữa con người hơn là chữa bệnh; nghĩa là giúp bệnh nhân tự suy xét lại bản thân mình về mọi mặt, từ thể chất đến tinh thần, hầu tránh đi những việc làm có hại cho mình và cho người khác; đồng thời tổ chức được một nếp sống lành mạnh, vui tươi và hữu ích hơn. Bởi vậy, nếu sử dụng phương pháp Thực Dưỡng thuần túy để chữa bệnh có tính cách tạm thời, thường sẽ không thành công theo ý muốn. Sau đây là một số trở ngại cho việc áp dụng phương pháp này trong trị liệu:

1. QUÁ MUỘN: Đối với những trường hợp quá muộn, nghĩa là cơ thể đã suy thoái trầm trọng. Ví dụ như đến mức cùng thì phương pháp Thực Dưỡng, một đường lối trị bệnh dựa vào cơ chế miễn nhiễm tự nhiên, có thể không đủ thời gian cứu con bệnh. Tuy nhiên, nếu áp dụng phương pháp này, những bệnh nhân quá muộn vẫn hưởng được nhiều lợi ích như không bị đau đớn hành hạ và ra đi êm thắm.

2. THIẾU NIỀM TIN VÀ Ý CHÍ
: Nếu không tin tưởng tuyệt đối vào những hướng dẫn của phương pháp này, bệnh nhân rất dễ sai phạm hoặc bỏ dở nửa chừng do ý kiến của những người không am hiểu vấn đề, hoặc dễ bị lôi cuốn bởi những món ăn thức uống “cấm kỵ”.

3. THIẾU NGHIÊN CỨU: Niềm tin và ý chí được củng cố qua sự nghiên cứu lý thuyết sách báo Thực Dưỡng và học hỏi những người có kinh nghiệm, nhất là những người đồng bệnh đã và đang theo phương pháp này. Đồng thời phải lưu tâm theo dõi những biến chuyển của cơ thể và vận dụng những điều đã nghiên cứu, học hỏi để lấy kinh nghiệm cho bản thân.

4. KHÔNG ĐƯỢC GIA ĐÌNH, THÂN NHÂN HỖ TRỢ: Nếu những người trong gia đình bệnh nhân, nhất là người có phận sự chăm sóc trực tiếp không hiểu biết, hoặc không đồng tình ủng hộ, thì có thể vì lòng “thương” sẽ làm “hại” diễn tiến cải thiện sức khỏe theo phương pháp Thực Dưỡng.

5. NHỮNG SAI LẦM KHÁC: Ngoài những sai lầm đã nói như: nhai không kỹ, ăn nhiều, uống nước nhiều, nhịn ăn không cẩn thận, v.v... Người mới thực hành thường mắc một số sai lầm khác như:

- Dương quá độ: Nhiều người lầm tưởng yêu cầu của Thực Dưỡng là “càng dương càng tốt”, nên ra sức ăn thật mặn, cố nhịn nước dù khát, vận động thể lực tối đa, hoặc ăn toàn các món nướng, rang, chiên, dù đang trong mùa hè, v.v... Sự việc này có thể vượt mức chịu đựng của cơ thể, gây ra tình trạng kiệt sức, hoặc những phản ứng mãnh liệt dẫn đến sự “phá giới” vô cùng nguy hiểm. Các bạn nhớ cho chủ trương của phương pháp Thực Dưỡng là quân bình và điều độ.

- Không biết linh động: Thường đây là những người không chịu đọc sách báo Thực Dưỡng và thiếu tìm hiểu thực tế. Thí dụ trẻ con và người già răng yếu không biết nấu nhừ, hoặc xay, giã nhỏ vật thực trước khi ăn, hoặc không biết chế biến thực phẩm cho dễ ăn, hoặc có người cứ ăn mãi gạo lứt muối mè lâu ngày sinh chán, v.v... Trong vũ trụ này, mọi sự vật đều vận động và biến hóa không ngừng, nào ngày đêm đắp đổi, nào bốn mùa luân chuyển, khi nắng khi mưa và cuộc sống con người cũng đa dạng.

Vì vậy, để có thể tồn tại, sống vui qua năm tháng của đời người, chúng ta không nên đóng khung vào một khuôn mẫu hoặc một công thức cố định, mà phải biết thích ứng với mỗi đổi thay, khác biệt của từng cá nhân theo thời gian và không gian. Đồng thời cũng nên biết không có hiện tượng nào thuần Âm hoặc thuần Dương, mà bao gồm cả Âm lẫn Dương. Trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong chữa trị bệnh, chúng ta nên tuân theo nguyên lý này; lẽ dĩ nhiên có lúc Dương hơn và có lúc cần Âm hơn.
Trả lời với trích dẫn
  #2  
Cũ 06-08-2011, 10:21 AM
bapcai bapcai đang ẩn
Member
 
Tham gia ngày: Jun 2011
Bài gửi: 56
Mặc định

PHÉP DINH DƯỠNG CẦN ĐƯỢC TUÂN THỦ TRIỆT ĐỂ TỪ BA TUẦN ĐẾN MỘT THÁNG

Vài phản ứng có thể xảy ra cần được biết đến vào thời kỳ đầu sau khi áp dụng phương pháp dinh dưỡng này:

- Cảm giác suy nhược, cảm thấy chân bị bại liệt từng phần, do nơi nguồn gốc tâm linh và cũng do nơi giảm thiểu số lượng huyết dịch lưu thông trong cơ thể. Sau khoảng 15 ngày đến 1 tháng, trạng chứng này sẽ mất đi.

- Thường tim đập chậm lại, nhất là khi ta dùng một số lượng muối khá nhiều, vô hại.

- Đau đầu thường xảy ra vào những ngày đầu trong thời gian ăn số 7.

- Trạng thái buồn nôn, cũng thường hay mửa cả đồ ăn và mật (đảm trấp), ớn cơm (nói chung các đồ ăn ngũ cốc). Đừng ngại cứ ăn ít lại, vài ngày sau sẽ ăn ngon trở lại, vẫn cứ làm việc như bình thường.

- Chảy máu cam máu mũi, đôi khi thổ huyết, hoặc tiện huyết ( phẩn có vấy máu). Cũng gặp trường hợp chảy máu tai; hầu hết các trạng thái khủng hoảng này đều được cải thiện sau đó.

- Nhất là ở thiếu nữ thường có sự ngưng chỉ kinh nguyệt, thay đổi từ 1 đến 6 tháng, sau đó kinh nguyệt sẽ trở lại.

- Về phía nam giới, đôi khi có trạng chứng bất lực trong một thời gian ngắn, có thể cũng cùng một trạng chứng như trên.

- Rất thường xảy ra trường hợp táo bón vào lúc đầu do nơi sự thiếu nước và do sự giảm thiểu số lượng thực phẩm, nhưng không có gì đáng quan tâm, chớ dùng thuốc nhuận trường, không có nguy hại vì không có đản bạch tinh (Protéines) động vật. Chịu khó chờ đợi, sự đi tiêu sẽ được điều hòa trở lại. Trong một thời kỳ nào đó, nghe phân không có mùi hôi thúi gì cả.

- Trong tháng đầu, hầu hết đều gầy hẳn xuống.

- Ở những người mắc bệnh phong thấp thường có sự gia tăng đau nhức và sưng khớp xương tạm thời.

- Về phương diện tinh thần, hình như luôn có một thời kỳ hay nổi xung (dễ phát cáu), chán đời do một số nơi cảm giác khát nước đến bắt khó chịu. Người ta thường hay bỏ cuộc vào thời kỳ này, việc rất thường thấy; cần phải tiên liệu trước để chịu đựng.

- Giấc ngủ bị rút ngắn lại, thường có mộng mị liên miên vào lúc đầu, đôi khi rất nhanh; nhưng trái lại, không hề có sự mất ngủ.

- Thường thường nước tiểu có mầu rất đậm và chứa nhiều chất lạ. Cả đến khi khối lượng nước tiểu trong trở lại, nhưng vẫn phải giữ cho được màu vàng sẫm. Đôi khi có trường hợp sưng bọng đái nhẹ.

- Đôi khi có phản ứng cảm sốt bất thình lình trong vòng 24 đến 48 giờ, rồi dứt đi cũng thình lình như thế mà không thấy có dấu hiệu chi hết.

- Mặc dù có cảm giác mệt mỏi vào lúc đầu, cũng cần phải tiếp tục công việc và cố gắng tập một vài cử động thể dục hàng ngày.

- Sự tiếp tục dùng thức ăn thuộc động vật trong khi giảm uống và ăn nhiều muối thêm sẽ rất có hại.
Trả lời với trích dẫn
  #3  
Cũ 06-08-2011, 10:32 AM
bapcai bapcai đang ẩn
Member
 
Tham gia ngày: Jun 2011
Bài gửi: 56
Mặc định

GIẢI ĐÁP MỘT SỐ THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN TÂM TRẠNG

- Ngại thiếu chất đạm bạch tố (Protéines) thuộc động vật:

Các chất đạm bạch tố thực vật đã có đủ, các acid amines trong loại ngũ cốc và rau quả như: biến đậu (Lentilles), đậu xanh chẳng hạn đủ bổ túc cho chỗ thiếu thốn ấy. Một vài loại thảo mộc có giá trị bổ túc cho đồ ăn ngũ cốc hơn hẳn các món ăn thịt cá, hoặc sữa như bánh dầu mè (xác mè sau khi ép lấy dầu rồi), hay xác dầu quỳ (công cuộc khảo cứu của bà Randoin). Nó chỉ thua có mỗi một thứ đản bạch tố ở trứng mà thôi. Các đồ ăn bổ túc cho loại ngũ cốc là những đồ ăn mang tới cho cơ thể những chất không có trong ngũ cốc.

- Sợ thiếu sinh tố C chăng?


Các cuộc khảo cứu thảo mộc mới đây ở Nhật và ở Anh đã chứng tỏ rằng trong các loại ngũ cốc (Paovitamine C) sự chịu nóng tới ngoài 150 độ và cơ thể người ta có thể tổng hợp và chuyển hóa nó thành sinh tố C. Ngoài ra, trong các thức ăn, thực dụng như ngò tây (Persil) và bồ công anh (Pissenlit) chẳng hạn, người ta cũng nhận thấy có nhiều sinh tố C trong cám hay cà chua (tomate) và được kèm với một hàm lượng phong phú tương đương về sinh tố A.

Các sinh tố khác thì đều có đầy đủ cả. Đại loại như sinh tố B và PP thấy có nhiều trong các loại ngũ cốc và sinh tố E trong mầm ngũ cốc. Về sinh tố D thì có trong mầm các loại ngũ cốc còn nguyên cám và trong bột kiều mạch (Flocon davoine).

Còn lại các sinh tố thuộc nhóm F do nơi các acid béo bất bão hòa trong các loại dầu thảo mộc sinh ra. Các acid béo giúp đắc lực cho sự biến hóa chất Cholesterol ở cơ thể người. Các thức loại nên dùng: dầu mè (vừng) và dầu quỳ (Tourynesil) cả dầu ô liu (cảm lảm) nữa. Trong các chất béo có nguồn gốc động vật và chất magarine (loại mở trứng) đều có tác dụng độc hại (công cuộc khảo cứu của bà Randoin đăng tải trong Công báo của Viện Vệ sinh thực phẩm năm 1975)

- Sợ sự hạn chế nước uống sẽ làm cho thận mệt chăng? Trái hẳn lại, chúng ta hãy nhớ lại những kết quả tuyệt hảo trong thực chế khô của Volhard trong việc chữa trị chứng sưng thận cấp tính khuếch tán (Người Đức đã dùng từ 7 đến 10 ngày để áp dụng thực chế khô táo này).

Ngoài ra, thận tạng có khả năng bài tiết chất muối (ClNa) trội hơn khả năng người thường tưởng tới. Thận tạng của một người có thể thải ra cứ mỗi lít nước tiểu là 30 gram ClNa và còn hơn thế nữa. Cho dù ăn 4, 5 muỗng cà phê muối mè mỗi ngày cũng không dung chứa tới trên 10 gram ClNa mỗi ngày, đó là điều rất thường.

KẾT LUẬN:

Cơ bản của thực chế này là đúng theo cơ bản các phép dinh dưỡng cổ truyền của phần đông dân chúng nông thôn vạm vỡ ở Âu châu, ở các xứ Đông Dương, nhất là ở miền cực Đông. Sự quân bình dinh dưỡng ấy đã bị đảo lộn hẳn ở Tây phương. Ở đây chỉ có thể sửa đổi gia giảm một cách rất khôn ngoan.

Các yếu tố có thể thay đổi được trong phép ăn này tùy theo tạng thể hoặc căn bệnh, là số lượng nước và muối, rồi đến tỷ độ tương quan về số lượng đồ ăn ngũ cốc và rau quả, là sự chọn lựa một số ngũ cốc hoặc rau quả, và dĩ nhiên thời kỳ cần phải thay đổi các tỷ lượng giữa những yếu tố này cho thích hợp với người bệnh.
Trả lời với trích dẫn
  #4  
Cũ 06-08-2011, 10:35 AM
bapcai bapcai đang ẩn
Member
 
Tham gia ngày: Jun 2011
Bài gửi: 56
Mặc định

PHÂN ĐỊNH ÂM DƯƠNG MỘT SỐ MÓN ĂN VÀ THỨC UỐNG

Chú ý:

Âm có ký hiệu ▼

▼▼▼ Âm hơn hết

▼▼ Âm nhiều

▼ Âm

Dương có ký hiệu ▲

▲ ▲ ▲Dương hơn hết

▲ ▲Dương nhiều

▲ Dương

Ký hiệu ▼ Âm

▼▼ Nếp, các loại gạo mạch
▼ Bo bo (ý dĩ), bắp (ngô)
Đậu nành, đậu phọng

Đậu đen, đậu trắng, đậu xanh

▼▼▼ Các loại cà, khoai tây, măng, giá, nấm.

Dưa leo, bắp chuối, khoai mì, môn tím

▼▼ - Rau muống, mồng tơi, su xanh, khoai mỡ tím, khoai lang, mứt biển

▼ - Bầu, khổ qua, đậu ve, đậu đũa, rau dền, su hào, khoai mở trắng

▼▼▼ - Gừng, ớt, tiêu, nước chanh, me, cà ri, chao, giấm gạo

▼▼ - Tương đậu phụ, mẻ (cơm chua), tương cải, va ni, rau răm
▼ - Bơ mè, tỏi, rau cần, rau húng quế.
▼▼▼ - Kem lạnh, nước đá, thức uống có đường, rượu, cà phê.
▼▼ - Nước trái cây, bia
▼ - Trà đọt, nước khoáng, nước lã
▼▼ - Đường cát
▼ - Đường thốt nốt, đường thô (vàng, đen, nâu) đường trái cây


Ký hiệu ▲ - Dương

▲ Gạo mì, gạo tẻ
▲▲ Kê, gạo mì đen
▲ Đậu ván, Đậu đỏ lớn hạt, xích tiểu đậu

▲▲▲ - Củ sắn dây, khoai mài
▲▲ - Diếp quắn đắng, lá bồ công anh, rau đắng, xà lách son, rau má, củ sam, cà rốt
▲ - Bắp cải, bông cải, củ cải trắng, cải cay (cải bẹ xanh), cải ngọt, cải tần ô, rau câu chỉ, phổ tai
▲▲▲ - Muối tự nhiên
▲ - Quế, hồi, hắc hương, rau mùi, hành, kiệu, poa rô, rau dấp cá, ngò, nghệ, tương đậu nành
▲▲▲ - Trà rễ đinh lăng, nhân sâm
▲▲ - Cà phê thực dưỡng, trà củ sen
▲ - Trà 3 năm, trà sắn dây, trà gạo rang, sữa thảo mộc
▲ - Mạch nha, chất ngọt hạt cốc
▲ - Chất ngọt rau củ, mật ong
Trả lời với trích dẫn
  #5  
Cũ 06-08-2011, 10:38 AM
bapcai bapcai đang ẩn
Member
 
Tham gia ngày: Jun 2011
Bài gửi: 56
Mặc định

CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT VÀ RANG MÈ

PHÂN LƯỢNG GẠO LỨT, NƯỚC VÀ MUỐI: Một lon gạo (lon sữa bò) + hai lon nước (lon sữa bò) + một phần tư muỗng cà phê muối hầm (chú ý, không được dùng muối iốt và muối bọt, muối đã chế biến). Lượng nước có thể thêm bớt tùy theo loại gạo.

CÁCH NẤU GẠO LỨT BẰNG NỒI THƯỜNG (Không được nấu bằng nồi cơm điện): Nấu nước sôi, đổ gạo và một phần tư

muỗng cà phê muối hầm vô nước sôi, khuấy đều. Đậy nắp, nấu cho sôi bùng lên rồi tắt lửa. Nhắc nồi xuống vẫn đậy nắp để 15 phút. Sau đó, nhắc nồi lên bếp, nấu tiếp lửa nhỏ cho đến khi chín.

CÁCH NẤU GẠO LỨT BẰNG NỒI ÁP SUẤT: Một gạo + một rưỡi nước (đong bằng lon sữa bò) + một phần tư muỗng cà phê muối

hầm. Cho gạo, nước, muối vô nồi một lượt. Nấu sôi xì hơi, tắt lửa. Để yên 15 phút. Sau đó, nấu tiếp, lửa nhỏ, cho đến khi chín.

CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT TỐT NHẤT:



CHƯNG CÁCH THỦY BẰNG NỒI ÁP SUẤT: Một chén gạo lứt nấu với hơn một chén nước. Nếu cơm khô, thêm nước; nếu cơm nhão, bớt nước (1 ký gạo lứt + 1 muỗng cà phê muối hầm). Gạo lứt + nước + muối để vô tô và đặt tô này vào nồi áp suất có nước. Nước trong nồi áp suất cho vừa đủ để khi nấu sôi lên không bị tràn nước vào tô gạo. Bật lửa, chưng cách thủy tô gạo lứt đã có nước, đến khi nghe sôi kêu nồi đợt đầu 15 phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 20 phút, bật lửa

lên nấu tiếp, nghe sôi kêu nồi đợt hai 5 phút thì tắt lửa. Để 30 phút sau là chín cơm.

NẤU CƠM GẠO LỨT BẰNG CÁCH CHƯNG CÁCH THỦY TRONG NỒI THƯỜNG: Một chén gạo lứt nấu với hơn một chén nước (1 ký gạo lứt + 1 muỗng cà phê muối hầm). Nếu cơm khô, thêm nước; nếu cơm nhão, bớt nước. Gạo lứt + nước + muối để vô tô và đặt tô này vào nồi có nước. Nước trong

nồi cho vừa đủ để khi nấu sôi lên không bị tràn nước vào tô gạo. Bật lửa, chưng cách thủy tô gạo lứt đã có nước, đến khi nghe sôi xì hơi đợt

đầu 30 phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 15 phút, bật lửa lên nấu tiếp, nghe sôi xì hơi đợt hai 10 phút thì tắt lửa. Để 30 phút sau là chín cơm.

CÁCH GIỮ CƠM GẠO LỨT KHÔNG THIU: Không đậy nắp kín mà dùng rá để đậy nồi cơm. Không được để cơm trong tủ lạnh

CÁCH HÂM CƠM GẠO LỨT: Khoét một lỗ tròn giữa nồi cơm cho đến đụng đáy nồi, đổ nước vô (lượng nước đủ tráng đáy nồi để cơm không bị khét khi hâm). Đậy nắp nồi cơm, nấu cho nước bốc hơi lên, mở nắp nồi khuấy đều. Dùng muỗng ép cơm cho bằng mặt và cứng. Đậy nắp nồi, để lửa riu riu khoảng 5 phút, tắt lửa.

CÁCH RANG MÈ: Mè vàng còn vỏ. Đổ mè vô thau nước đầy, đãi vớt lấy mè nổi trên mặt nước và bỏ sạn cát chìm xuống dưới

thau. Phơi khô mè sạch đã vớt, đựng trong hộp đậy nắp. Nếu mua mè sạch, không phải đãi nữa. Khi rang mè, nhúng tay cho ướt để bóp sơ mè cho thấm nước mới rang thì mè thơm hơn là rang khô. Rang lửa đều và nhỏ, khuấy đều mè, đến khi nghe mè nổ lách tách, rang thêm một chút nữa là mè chín. Đổ mè chín ra thau, phải đậy kín liền. Mười phút sau, mè nguội, bỏ vô cối nghiền chung với muối hầm. (Nghiền, không phải giã). Một muỗng cà phê muối hầm nghiền với 12 muỗng mè. Phân lượng này thay đổi tùy theo tuổi tác và loại bệnh. Mè trộn muối rồi chỉ được sử dụng 4 ngày. Ăn tiếp, phải rang mè mới.

CÁCH ĂN CƠM GẠO LỨT VỚI MUỐI MÈ Khi múc cơm ra chén, không được xới cơm đều, chỉ xắn cơm trong nồi từ trên xuống dưới để lấy đủ âm dương. Ăn bao nhiêu thì xắn bấy nhiêu ra chén. Để nguyên phần cơm dư ngày mai, không được xới lên. Một chén

cơm trộn đều với 4 muỗng cà phê muối mè đã nghiền. Ăn bằng muỗng cà phê, một lần ăn 1 muỗng cà phê cơm trộn mè, không được

nhiều hơn, để nhai nát cơm cho dễ. Phải nhai cho đến khi cơm thành nước và cảm thấy ngọt mới được nuốt và chỉ nuốt một lần, không

được nuốt nhiều lần; vì nuốt nhiều lần sẽ bị khát nước. Khi ăn không được hở moi, không được nói chuyện. Ăn bất cứ giờ nào, không cần đúng bữa. Trước khi ngủ hai tiếng, không được ăn. Dùng số lượng chén cơm nhiều ít tùy ý, nhưng không nên ăn no một lần, một chén cơm có thể ăn nhiều lần.

CÁCH RANG GẠO LỨT DÙNG ĐỂ ĂN: Nấu cơm gạo lứt chín bình thường. Xới cơm ra mâm phơi khô. Khi phơi cơm, phải trở cơm

thường xuyên mới khô đều và cơm rang được dòn. Mỗi ngày phơi cơm, chiều mang vô, mai phơi tiếp, không nên phơi ban đêm ngoài sương. Nhớ đậy cơm phơi bằng vải mỏng để tránh bụi và các con vật nhỏ không bám vào cơm. Phơi cơm ba nắng gắt, đến nắng thứ ba, lấy gạo đang phơi còn nóng đổ vô chảo đang nóng để rang thì gạo mới dòn và xốp. Rang gạo đến khi hạt gạo vừa vàng và thơm thì tắt lửa và đổ gạo đã rang vào một son sạch, đậy nắp liền, gạo sẽ thơm. Đậy nắp khoảng 30 phút trở lên, khi sờ tay thấy gạo còn ấm, không phỏng tay, cho muối hầm vào (lượng muối hầm bao nhiêu cũng được), đậy nắp lại. Khi gạo nguội hoàn toàn, đổ ra vợt rây, bỏ muối, lấy gạo. Chú ý, nếu cho muối hầm vào gạo còn nóng thì gạo sẽ hút nhiều muối, không được. Nếu cho muối vào gạo đã nguội thì gạo sẽ không thấm được muối. Nếu răng yếu, có thể xay gạo rang thành bột rồi cho nước nóng vào để ăn; hoặc không xay thành bột thì có thể ăn bằng cách ngậm gạo lứt rang trong miệng cho mềm, rồi nhai cho đến thành nước, mới được nuốt.

GẠO LỨT RANG DÙNG ĐỂ UỐNG: rang gạo lứt sống đến khi gạo vàng đậm là được, để nguội đựng vô keo, dùng từ từ.

NẾU BỊ BÓN: Hai tiếng một lần, nhai 1 muỗng cà phê muối mè rang rồi. Và trước khi ngủ, nhai 4 muỗng cà phê muối mè rang, nhai đến lúc không còn mặn mới được nuốt (khoảng 5 phút).

NƯỚC UỐNG TÙY THEO BỆNH: Bệnh tim mạch, đường ruột, bao tử, vôi cột sống: Dùng lá trà ba năm.

CÁCH PHƠI LÁ TRÀ BA NĂM: nấu nước sôi, cho lá trà tươi vào rồi vớt ra liền (đó là cách rửa trà). Sau đó ủ một đêm, phơi chỗ mát, một ngày xốc lên ba lần (sáng, trưa, chiều), phơi khoảng 1 tuần đến 10 ngày, lá trà khô, cho vô bao, để chỗ không ẩm. Khi dùng, sao khử thổ bằng cách đổ lá trà đã rang thơm xuống nền gạch tàu, rồi hốt lên liền, không được để lâu. Có thể mua 4 miếng gạch tàu, nếu nhà không lót gạch tàu. Lá trà rang để nguội cho vô bao để dành.

CÁCH NẤU NƯỚC TRÀ



Cách 1: Lấy 10 lá trà khô, rửa sạch bằng nước lạnh, vò nát lá trà, cho vô bình thủy và đổ 3 xị nước sôi vô (3 xị = 0,75 lít) . Để khoảng 15 phút, trà sẽ ra đủ chất và để nguyên lá như vậy trong bình thủy, khi uống rót nước thôi.

Cách 2: Nấu 10 lá trà đã rửa sạch, nấu sôi 15 phút, đổ nước trà vô bình thủy giữ nóng, bỏ lá trà.

ĐÁNH RĂNG.

Không được dùng kem đánh răng vì có chất hóa học. Đánh răng bằng bột thuốc theo pháp dưỡng sinh. Một ngày chỉ đánh một lần buổi

tối. Các lần khác súc miệng bằng nước muối.

***

Phụ chú: ĂN GẠO LỨT MUỐI MÈ THEO

SỐ 7: Nghĩa là ngoài gạo lứt muối mè, không được ăn bất cứ thức ăn gì (kể cả rau củ và trái cây cũng không được ăn).

Lần sửa cuối bởi bapcai; 06-08-2011 lúc 10:41 AM
Trả lời với trích dẫn
  #6  
Cũ 06-23-2011, 07:19 AM
nvt nvt đang ẩn
Senior Member
 
Tham gia ngày: Jun 2011
Bài gửi: 990
Mặc định

Một cách khác làm muối mè rất ngon :
-Rửa sạch mè vỏ
-Để ráo khoảng 3,4 giờ
-Cho mè lên chảo , đồng thời cho muối (muối hầm) vào theo tỉ lệ thích hợp với mình
-Rang chung muối mè với ngọn lửa lớn cho tới khi chín (cắn thử hạt mè thấy ngon là được)
-Đổ muối mè ra rồi để nguội , không cần đậy vải mùng.
-Cuối cùng đâm muối mè. Có thể dùng máy xay sinh tố (hộc nhỏ, mỗi lần xay được khoảng 1/2 lon)
Khi ta rang chung muối mè thì muối sẽ bọc ngoài hạt mè và giữ được hương vị của mè. Muối mè làm cách này rất ngon.
23/6/2011 nvt

Lần sửa cuối bởi nvt; 06-25-2011 lúc 05:10 PM
Trả lời với trích dẫn
  #7  
Cũ 06-27-2011, 09:27 AM
motsach motsach đang ẩn
Junior Member
 
Tham gia ngày: Jun 2011
Bài gửi: 14
Mặc định

Mời các bạn click vào để tải file pdf "Sổ tay Thực dưỡng Ohsawa"

Tài liệu được siêu tầm trên trang http://www.chualonghuongtthai.com.vn...ng%20sinh.html

Lần sửa cuối bởi motsach; 06-27-2011 lúc 09:29 AM
Trả lời với trích dẫn
Trả lời

Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở

Chuyển đến


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 11:06 PM
Sử dụng mã nguồn vBulletin® Phiên bản 3.8.4
BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ nội dung bài viết của thành viên.